Tìm hiểu các đặc điểm, vai trò quan trọng của thuế tại Việt Nam

0
23

Khái niệm thuế

Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đó chính là thuế. Như vậy thuế là sản phẩm tất yếu từ  sự xuất hiện bộ máy Nhà nước.

Khái niệm thuếKhái niệm thuế

Đặc điểm và vai trò của thuế

a/ Đặc điểm của thuế

Xuất phát từ các khái niệm trên chúng ta có thể thấy được các đặc điểm chính của thuế như sau:

– Thứ nhất: Thuế có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.

Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, bởi vậy việc đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân cho Nhà nước.

Nghĩa vụ này được quy định cụ thể trong luật của mỗi quốc gia sao cho phù hợp với từng đối tượng đóng thuế. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế là đã vi phạm pháp luật và sẽ bị cưỡng chế  thực hiện hoặc xử lý theo đúng quy định.

– Thứ hai: Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.

Thuế thu được sẽ sử dụng vào các khoản chi tiêu của Nhà nước như là chi tiêu công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, trợ cấp…mọi đối tượng trong xã hội dù nộp nhiều, nộp ít thậm chí không nộp thuế đều được hưởng các phúc lợi xã hội từ Nhà nước một cách bình đẳng.

Điều này cho thấy rằng số thuế mà các đối tượng phải nộp được tính toán dựa trên hoạt động và thu nhập của họ chứ không phải dựa vào phúc lợi xã hội mà họ được hưởng. Mặt khác, thuế được hoàn trả thông qua phúc lợi xã hội chứ không phải trả bằng những khoản tiền mà các đối tượng đã nộp sau một thời gian nhất định.

b/ Vai trò của thuế

Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia thuế đóng một vai trò hết sức quan trọng

– Đầu tiên, thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của ngân sách quốc gia.

Ngân sách có thể huy động nguồn thu bằng nhiều cách khác nhau như đi vay, bán tài nguyên hay tài sản quốc doanh… nhưng không có một nguồn thu nào mang tính chất bền vững và cơ bản như thuế.

Tỷ trọng thu từ thuế thường chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của Ngân sách nhà nước, tuy nhiên không phải vì thế mà chính phủ các nước có thể tìm mọi cách để tăng thu từ thuế, bởi vì, nếu tăng thuế đến một mức quá cao thì phần còn lại cho các đối tượng nộp thuế ít đi, họ sẽ cảm thấy không xứng đáng với công sức mình bỏ ra và như vậy ham muốn làm việc giảm xuống, kết quả là sản xuất kinh doanh không được khuyến khích mở rộng, số thuế thu về cho Nhà nước tất yếu sẽ giảm.

Để đảm bảo nguồn thu này ngày càng gia tăng thì Chính phủ các nước phải có những biện pháp thích hợp, đảm bảo hài hoà lợi ích của cả Nhà nước và đối tượng nộp thuế. Vì vậy khi đánh thuế cần tuân thủ các nguyên tắc như: Nguyên tắc lợi ích và nguyên tắc khả năng thanh toán, nguyên tắc công bằng ngang và công bằng dọc.

– Thứ hai, thuế tham gia vào việc điều tiết kinh tế vĩ mô.

Nếu như  trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội bằng hệ thống các mệnh lệnh, chỉ tiêu, các kế hoạch từ trung ương đến địa phương, thì ở cơ chế nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ mô bằng các định hướng, biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra.

Thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính đắc lực nhất mà Nhà nước dùng để điều tiết kinh tế vĩ mô. Bằng cách ban hành hệ thống các văn bản pháp luật thuế, quy định các mức thuế suất khác nhau, Chính phủ có thể kiềm chế hay khuyến khích một hoạt động kinh tế nào đó.

Ví dụ như  đối với một số mặt hàng mà Chính phủ không khuyến khích tiêu dùng như  thuốc lá, bia rượu… thì có thể áp dụng nhiều sắc thuế đối với cùng một mặt hàng như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT và áp dụng các mức thuế suất cao. Còn đối với các hàng hoá cần khuyến khích sản xuất, tiêu dùng thì áp dụng các mức thuế suất thấp. Điều đó sẽ góp phần đảm bảo cân đối các ngành trong nền kinh tế.

Ngoài ra, Nhà nước còn có thể sử dụng thuế để tác động vào các hoạt động xuất, nhập khẩu nhằm hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế,

– Thứ ba, thuế là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội.

Xét về mặt tiêu dùng, thuế đã phân bổ lại các nguồn lực từ cách sử dụng tư nhân sang cách sử dụng công cộng.

Xét về mặt sản xuất, thuế có thể làm thay đổi quyết định đầu tư  của các hãng sản xuất kinh doanh bằng cách đầu tư vào những mặt hàng có nhiều ưu đãi thuế suất và rút dần khỏi các – mặt hàng có mức thuế suất cao.

Thứ tư, thuế là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng. Đây là một “ khiếm khuyết” lớn mà nền kinh tế thị trường – bản thân nó không tự giải quyết được.

Hậu quả của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư trong cộng đồng. Để giải quyết tình trạng này Nhà nước cần có các biện pháp cụ thể mà một trong những giải pháp đó là thuế.

Thông qua thuế thu nhập, Chính phủ sẽ khấu trừ thu nhập của các cá nhân theo những tỉ lệ khác nhau hoặc thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào các hàng hoá mà chỉ có lớp người giàu mới tiêu thụ.

Số thuế thu được sẽ đầu tư vào các chương trình trợ giúp cho người nghèo, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo, tạo công bằng xã hội.

– Thứ năm, thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để thu được thuế một cách đầy đủ cho ngân sách Nhà nước, thì các cơ quan thuế phải thực hiện các biện pháp khác nhau để nắm vững được ngành nghề, mặt hàng kinh doanh cũng như doanh số của các doanh nghiệp.

Mặt khác các quy định chung về hoá đơn chứng từ trong các sắc thuế cũng giúp cho việc ghi chép, hạch toán của các doanh nghiệp rõ ràng hơn, từ đó giúp  cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan thuế thuận lợi hơn.

Đặc điểm và vai trò của thuếĐặc điểm và vai trò của thuế

Phân loại thuế

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có các cách phân loại thuế khác nhau, cụ thể như sau:

* Nếu theo phạm vi điều chỉnh của thuế thì có hai loại:

– Thuế tổng hợp: là thuế đánh vào tất cả các bộ phận cấu thành của một cơ sở thuế và không chấp nhận một trường hợp nào được loại trừ, được miễn hoặc giảm thuế từ cơ sở tính thuế đó.

– Thuế có lựa chọn: là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sở thuế.

* Nếu theo tính chất điều tiết của thuế, thì có:

– Thuế trực thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế đồng thời là một

– Thuế gián thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế không đồng thời là một

* Nếu theo cơ sở thuế, có:

– Thuế thu nhập: là loại thuế đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế và thu nhập của các cá nhân

– Thuế tài sản: là loại thuế đánh vào việc nắm giữ hay chuyển nhượng tài sản.

– Thuế tiêu dùng: là loại thuế đánh vào việc tiêu thụ, sử dụng sản phẩm và dịch vụ.

* Nếu căn cứ vào tính chất thuế suất mà sắc thuế đó áp dụng thì có:

– Thuế tỷ lệ: là loại thuế mà thuế suất trung bình không thay đổi theo giá trị của cơ sở tính thuế.

– Thuế lũy tiến: là loại thuế mà thuế suất trung bình tăng lên khi giá trị cơ sở tính thuế tăng.

– Thuế lũy thoái: là loại thuế mà thuế suất trung bình giảm xuống khi giá trị cơ sở thuế tăng.

Cơ chế quản lý thuế

Hiện nay trên thế giới có hai cơ chế quản lý thuế chính đó là : Cơ chế cơ quan thuế tính thuế và cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế.

Cơ chế cơ quan thuế tính thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các tờ khai trước khi ra thông báo thuế. Cơ chế này thể hiện sự không tin tưởng của cơ quan thuế với các đối tượng nộp thuế, cách thức quản lý mang tính áp đặt, nặng về sử dụng quyền lực.

Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế hành thu mà đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp của mình theo luật định và chủ động nộp thuế cho nhà nước theo số thuế mà mình đã tính toán.

Với xu thế phát triển của thế giới hiện nay thì cơ chế cơ quan thuế tính thuế không còn phù hợp nữa bởi khi mà nền kinh tế phát triển số lượng đối tượng nộp thuế ngày càng nhiều, nếu vẫn áp dụng cơ chế cũ thì nguồn nhân lực của cơ quan thuế cũng tăng lên đáng kể, nó trái ngược với yêu cầu tinh giảm số lượng công chức nhà nước.

Bên cạnh đó, ưu điểm của cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế ngày càng được phát huy như là tiết kiệm thời gian công sức do cán bộ quản lý thu thuế hàng tháng sẽ không mất thời gian để tính toán lại số thuế phải nộp hay đi gửi thông báo thuế, tiết kiệm chi phí quản lý hành chính về thuế, nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế..

Bởi vậy, điều tất yếu xảy ra là cơ chế  quản lý thuế theo hình thức tự kê khai, tự nộp thuế sẽ dần thay thế cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế.

Hi vọng bài viết “Khái niệm thuế, đặc điểm, vai trò và phân loại thuế” này sẽ cung cấp những kiến thức mà bạn đang tìm kiếm. Chúc bạn học tập tốt!

Xem thêm thông tin khác: hệ thống bộ máy nhà nướcbài mẫu báo cáo thực tậpcác yếu tố thuộc môi trường marketing

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.