Quan điểm tiền lương trong thời kỳ bao cấp và Quỹ tiền lương

0
35

Tiền lương là gì?

Tại mỗi thời kỳ khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về tiền lương. Tuy nhiên, trong tất cả các thời kỳ tiền lương đều là phần thù lao lao động mà người lao động được hưởng duy chỉ có cách xác định là khác nhau

a/ Quan điểm tiền lương trong thời kỳ bao cấp

Trước đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và trong suốt những năm naỳ quan niệm tiền lương là một phần thu nhập quốc dân được nhà nước phân phối một cách có tổ chức, có kế hoạch cho người lao động căn cứ  vào số lượng và chất lượng lao động. Điều đó có nghĩa là tiền lương chịu sự tác động của quy luật cân đối có kế hoạch và chịu sự chi phối của Nhà nước.

Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ và mức lương cụ thể để áp dụng cho người lao động, bất kỳ họ là lực lượng lao động gián tiếp hay trực tiếp. Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn đơn vị chứ không phụ thuộc vào năng suất của từng người.

Do đó tiền lương của người làm nhiều cũng chỉ bằng những người làm ít, người làm việc có hiệu quả cũng chỉ bằng người làm việc chưa hiệu quả, thậm chí là kém. Chính vì lý do này mà nó không kích thích phát triển được khả năng của người lao động trong việc  phát huy sáng kiến cũng như đẩy mạnh hiệu quả sản xuất kinh doanh. Và hậu quả là cuối những năm 80 đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng kinh tế xã hội.

Tiền lương là gì?Tiền lương là gì?

b/ Quan niệm về tiền lương trong cơ chế thị trường

Để khắc phục sai lầm trên Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới. Trên lĩnh vực kinh tế Đảng chủ trương đẩy mạnh quá trình chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường.

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tất yếu thị trường sức lao động phải được hình thành theo quy luật cung cầu về sức lao động. Giá cả của sức lao động là tiêu chuẩn trả công lao động. Như vậy quan niệm về tiền lương trong thời kỳ này là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động để hoàn thành công việc.

Với quan niệm này thì bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động.

Như vậy tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá: nó biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản xuất xã hội mà người lao động sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động.

Bản chất của tiền lươngBản chất của tiền lương

Quỹ tiền lương

* Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền lương tính theo số công nhân viên của doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương, bao gồm các khoản sau:

– Tiền lương tính theo thời gian

– Tiền lương tính theo sản phẩm

– Tiền lương công nhật, lương khoán

– Tiền lương trả cho người lao động chế tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định.

– Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan.

– Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công tác,đi làm nghĩa vụ trong phạm vi chế độ quy định.

– Tiền lương trả cho người lao động khi đã nghỉ phép, đi học theo chế độ quy định.

– Tiền trả nhuận bút, giảng bài.

– Tiền thưởng có tính chất thường xuyên

– Phụ cấp làm đêm, thêm giờ, thêm ca

– Phụ cấp dạy nghề

–  Phụ cấp công tác lưu động

– Phụ cấp khu vực, thâm niên ngành nghề

– Phụ cấp trách nhiệm

– Phụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thuật có tài năng.

– Phụ cấp học nghề, tập sự

– Trợ cấp thôi việc

–  Tiền ăn ca của người lao động.

Ngoài ra trong quỹ tiền lương con gồm cả khoản tiền chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho công nhân viên trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (BHXH trả thay lương).

Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp cần được quản lý và kiểm tra một cách chặt chẽ đảm bảo việc sử dụng quỹ tiền lương một cách hợp lý và có hiệu quả.

Quỹ tiền lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ đó nhằm phát hiện kịp thời các khoản tiền lương không hợp lý, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo động, thực hiện nguyên tắc mức tăng năng suất lao động bình quân nhanh hơn mức tăng tiền lương bình quân góp phần hạ thấp chi phí trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ xã hội.

Trên phương diện hạch toán tiền lương thì tiền lương của công nhân viên gồm 2 loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ.

– Tiền lương chính: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ chính của họ, bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo như lương phụ cấp chức vụ.

– Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên nghỉ theo chế độ được hưởng lương nghỉ phép, đi họp, đi học, việc chia tiền lương chính và phụ có ý nghĩa quan trọng trong công tác kế toán tiền lương và phân tích các khoản mục chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm.

Trong công tác kế toán, tiền lương chính của công nhân sản xuất thường hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm và tiền lương chính của công nhân sản xuất trực tiếp có quan hệ trực tiếp tới số lượng công việc hoàn thành.

Xem thêm: tiền lươngbáo cáo tốt nghiệpmarketing trong doanh nghiệp

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.